Chương 57 — Cải Cách
Chương này dựa trên Nê-hê-mi 13.
Dân Giu-đa đã công khai và trang nghiêm cam kết vâng giữ luật pháp Đức Chúa Trời. Nhưng khi ảnh hưởng của Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi tạm thời rút lui, nhiều người đã lìa bỏ Chúa. Nê-hê-mi đã trở về Ba Tư. Trong thời gian ông vắng mặt tại Giê-ru-sa-lem, các điều ác len lỏi vào, đe dọa làm hư dân tộc. Những kẻ thờ hình tượng không chỉ chiếm được chỗ đứng trong thành, mà sự hiện diện ô uế của chúng còn làm dơ bẩn ngay khuôn viên đền thờ. Qua hôn nhân lẫn lộn, một mối quan hệ thân thiết đã hình thành giữa Ê-li-a-síp thầy tế lễ cả và Tô-bi-a người Am-môn, kẻ thù cay độc của Y-sơ-ra-ên. Do liên minh không thánh khiết này, Ê-li-a-síp đã cho phép Tô-bi-a chiếm một căn phòng liền kề đền thờ, nơi trước đây dùng để chứa phần mười và các lễ vật của dân chúng. {PK 669.1}
Vì sự tàn nhẫn và phản bội của người Am-môn và Mô-áp đối với Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời đã phán qua Môi-se rằng họ sẽ bị loại trừ vĩnh viễn khỏi hội chúng dân Ngài. Xem Phục Truyền Luật Lệ Ký 23:3-6. Bất chấp lời ấy, thầy tế lễ cả đã đuổi các lễ vật trong phòng nhà Đức Chúa Trời ra để nhường chỗ cho đại diện của một dân tộc bị cấm đoán. Không thể có sự khinh miệt Đức Chúa Trời lớn hơn việc ban ân huệ như vậy cho kẻ thù của Đức Chúa Trời và lẽ thật Ngài. {PK 669.2}
Khi trở về từ Ba Tư, Nê-hê-mi biết được sự xúc phạm công khai này và lập tức thực hiện biện pháp mạnh mẽ để đuổi kẻ xâm nhập. “Điều đó làm tôi rất buồn,” ông tuyên bố; “vì vậy tôi ném hết đồ đạc nhà Tô-bi-a ra khỏi phòng. Rồi tôi truyền lệnh, và họ làm sạch các phòng; tôi đem lại các vật dụng nhà Đức Chúa Trời, cùng của lễ và nhũ hương.” {PK 670.1}
Không chỉ đền thờ bị ô uế, mà các lễ vật cũng bị sử dụng sai. Điều này làm nản lòng sự rộng rãi của dân chúng. Họ mất nhiệt thành và sốt sắng, miễn cưỡng nộp phần mười. Các kho tàng nhà Chúa thiếu thốn; nhiều người hát và những người khác làm việc trong đền thờ, không được hỗ trợ đủ, đã rời bỏ công việc Chúa để lao động nơi khác. {PK 670.2}
Nê-hê-mi bắt tay sửa chữa các lạm dụng này. Ông tập hợp những người đã rời bỏ sự phục vụ nhà Chúa, “và đặt họ vào chỗ cũ.” Việc này khơi dậy lòng tin nơi dân chúng, và toàn Giu-đa đem “phần mười lúa mì, rượu mới và dầu.” Những người “được xem là trung tín” được lập làm “thủ kho trên các kho tàng,” “và nhiệm vụ họ là phân phát cho anh em mình.” {PK 670.3}
Một hậu quả khác của việc giao tiếp với dân thờ hình tượng là sự coi thường ngày Sa-bát, dấu hiệu phân biệt Y-sơ-ra-ên với mọi dân tộc khác như những người thờ phượng Đức Chúa Trời thật. Nê-hê-mi thấy rằng các thương nhân và người bán hàng ngoại giáo từ vùng xung quanh đến Giê-ru-sa-lem đã dụ nhiều người Y-sơ-ra-ên buôn bán vào ngày Sa-bát. Có một số người không thể bị thuyết phục hy sinh nguyên tắc, nhưng những người khác vi phạm và hợp tác với dân ngoại để vượt qua sự e ngại của người cẩn trọng hơn. Nhiều người dám công khai vi phạm ngày Sa-bát. “Trong những ngày ấy,” Nê-hê-mi viết, “tôi thấy ở Giu-đa có người giẫm ép nho vào ngày Sa-bát, đem bó lúa, chất lên lừa; cũng có rượu, nho, trái vả và mọi gánh nặng, đem vào Giê-ru-sa-lem vào ngày Sa-bát…. Có người Ty-rơ ở đó, đem cá và mọi thứ hàng hóa đến bán cho con cái Giu-đa vào ngày Sa-bát.” {PK 671.1}
Tình trạng này có thể đã được ngăn chặn nếu các lãnh đạo thực thi thẩm quyền; nhưng lòng mong muốn thăng tiến lợi ích riêng đã khiến họ dung túng kẻ vô đạo. Nê-hê-mi không sợ hãi quở trách họ vì bỏ bê bổn phận. “Các ngươi làm điều ác gì vậy, và làm ô uế ngày Sa-bát?” ông nghiêm khắc hỏi. “Há tổ phụ các ngươi không làm như vậy, và Đức Chúa Trời chúng ta há không giáng mọi điều dữ này trên chúng ta và trên thành này sao? Vậy các ngươi lại làm thêm cơn thịnh nộ trên Y-sơ-ra-ên bằng cách làm ô uế ngày Sa-bát.” Ông truyền lệnh rằng “khi các cổng Giê-ru-sa-lem bắt đầu tối trước ngày Sa-bát,” chúng phải đóng lại và không mở cho đến khi ngày Sa-bát qua; và vì tin cậy tôi tớ mình hơn những người các quan cai trị Giê-ru-sa-lem có thể bổ nhiệm, ông đặt họ tại các cổng để thi hành lệnh. {PK 671.2}
Không muốn từ bỏ mục đích, “các thương nhân và người bán mọi thứ hàng hóa ở ngoài Giê-ru-sa-lem một hoặc hai lần,” hy vọng tìm cơ hội buôn bán với dân thành hoặc dân quê. Nê-hê-mi cảnh cáo họ rằng nếu tiếp tục, họ sẽ bị phạt. “Sao các ngươi lại ở ngoài tường thành?” ông hỏi; “nếu các ngươi còn làm vậy, ta sẽ tra tay trên các ngươi.” “Từ lúc ấy, họ không còn đến vào ngày Sa-bát nữa.” Ông cũng chỉ thị người Lê-vi canh giữ các cổng, biết rằng họ sẽ được kính trọng hơn dân thường, và do mối liên hệ chặt chẽ với sự phục vụ Đức Chúa Trời, họ sẽ nhiệt thành hơn trong việc thi hành luật pháp Ngài. {PK 672.1}
Và nay Nê-hê-mi hướng sự chú ý đến nguy cơ lại đe dọa Y-sơ-ra-ên từ hôn nhân lẫn lộn và giao tiếp với dân thờ hình tượng. “Trong những ngày ấy,” ông viết, “tôi thấy người Giu-đa cưới vợ A-sốt, Am-môn và Mô-áp: và con cái họ nói nửa tiếng A-sốt, không thể nói tiếng Giu-đa, mà theo tiếng của từng dân.” {PK 673.1}
Những liên minh bất hợp pháp này gây rối loạn lớn trong Y-sơ-ra-ên; vì một số người tham gia là những người có địa vị cao, các lãnh đạo mà dân chúng có quyền trông mong lời khuyên và gương sáng an toàn. Thấy trước sự hủy diệt trước dân tộc nếu điều ác này tiếp tục, Nê-hê-mi lý luận tha thiết với những kẻ làm sai. Chỉ vào trường hợp Sa-lô-môn, ông nhắc họ rằng giữa mọi dân tộc không có vua nào như người này, người mà Đức Chúa Trời đã ban trí tuệ lớn lao; nhưng các phụ nữ thờ hình tượng đã làm lệch lòng ông khỏi Đức Chúa Trời, và gương ông đã làm hư Y-sơ-ra-ên. “Vậy chúng ta lại nghe các ngươi để làm mọi điều ác lớn này sao?” Nê-hê-mi nghiêm khắc hỏi. “Các ngươi chớ gả con gái mình cho con trai chúng, cũng chớ cưới con gái chúng cho con trai mình hay cho mình.” {PK 673.2}
Khi ông trình bày trước họ các điều răn và lời đe dọa của Đức Chúa Trời, cùng các sự đoán phạt kinh hoàng đã giáng trên Y-sơ-ra-ên trong quá khứ vì chính tội lỗi này, lương tâm họ bị đánh thức, và một công việc cải cách bắt đầu, làm quay đi cơn thịnh nộ Đức Chúa Trời đã đe dọa và mang lại sự chấp thuận cùng phước lành Ngài. {PK 673.3}
Có một số người giữ chức thánh cầu xin cho vợ ngoại của mình, tuyên bố rằng họ không thể rời bỏ họ. Nhưng không có sự phân biệt; không có sự kính trọng cấp bậc hay địa vị. Bất cứ ai trong các thầy tế lễ hay lãnh đạo từ chối cắt đứt quan hệ với dân thờ hình tượng đều bị lập tức tách khỏi sự phục vụ Chúa. Một người cháu trai của thầy tế lễ cả, cưới con gái San-bạt-lát khét tiếng, không chỉ bị cách chức mà còn bị trục xuất ngay lập tức khỏi Y-sơ-ra-ên. “Xin Đức Chúa Trời tôi nhớ đến họ,” Nê-hê-mi cầu nguyện, “vì họ đã làm ô uế chức tế lễ và giao ước của chức tế lễ và Lê-vi.” {PK 674.1}
Sự đau đớn trong lòng mà sự nghiêm khắc cần thiết này gây ra cho người làm việc trung tín của Đức Chúa Trời chỉ ngày phán xét mới bày tỏ. Có cuộc đấu tranh liên tục với các yếu tố đối lập, và chỉ bằng sự kiêng ăn, hạ mình và cầu nguyện mới có tiến bộ. {PK 674.2}
Nhiều người đã cưới vợ ngoại giáo chọn đi theo họ vào lưu đày, và những người này, cùng với những kẻ bị trục xuất khỏi hội chúng, gia nhập với người Sa-ma-ri. Một số người từng giữ vị trí cao trong công việc Đức Chúa Trời cũng tìm đường đến đó và sau một thời gian hoàn toàn liên kết với họ. Muốn củng cố liên minh này, người Sa-ma-ri hứa sẽ tiếp nhận đầy đủ hơn đức tin và phong tục Giu-đa, và những kẻ bội nghịch, quyết tâm vượt qua anh em cũ, đã dựng một đền thờ trên núi Ga-ri-zim để đối nghịch với nhà Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem. Tôn giáo của họ tiếp tục là sự pha trộn giữa Do Thái giáo và ngoại giáo, và tuyên bố của họ rằng mình là dân Đức Chúa Trời trở thành nguồn chia rẽ, ganh đua và thù địch giữa hai dân tộc, từ thế hệ này đến thế hệ khác. {PK 674.3}
Trong công việc cải cách cần thực hiện hôm nay, cần có những người như Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi, không che đậy hay bào chữa tội lỗi, cũng không né tránh việc bảo vệ danh dự Đức Chúa Trời. Những người mang gánh nặng công việc này sẽ không im lặng khi điều sai trái xảy ra, cũng không che giấu điều ác bằng áo choàng từ thiện giả tạo. Họ sẽ nhớ rằng Đức Chúa Trời không thiên vị ai, và sự nghiêm khắc với một số ít có thể là lòng thương xót cho nhiều người. Họ cũng sẽ nhớ rằng trong người quở trách điều ác, tinh thần Đấng Christ phải luôn được bày tỏ. {PK 675.1}
Trong công việc, Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi đã hạ mình trước Đức Chúa Trời, xưng nhận tội lỗi mình và tội lỗi dân mình, khẩn cầu tha thứ như chính họ là kẻ phạm tội. Họ kiên nhẫn lao động, cầu nguyện và chịu khổ. Điều làm công việc họ khó khăn nhất không phải sự chống đối công khai của dân ngoại, mà là sự chống đối bí mật từ những kẻ giả vờ là bạn, những kẻ bằng cách cho mượn ảnh hưởng vào sự phục vụ điều ác đã tăng gấp mười gánh nặng cho tôi tớ Đức Chúa Trời. Những kẻ phản bội này cung cấp cho kẻ thù Chúa chất liệu để dùng trong cuộc chiến chống lại dân Ngài. Những đam mê ác và ý chí phản nghịch của chúng luôn chống lại các đòi hỏi rõ ràng của Đức Chúa Trời. {PK 675.2}
Thành công theo sau nỗ lực của Nê-hê-mi cho thấy cầu nguyện, đức tin và hành động khôn ngoan, năng động sẽ đạt được điều gì. Nê-hê-mi không phải thầy tế lễ; ông không phải tiên tri; ông không tự xưng danh hiệu cao trọng. Ông là nhà cải cách được dấy lên cho một thời kỳ quan trọng. Mục đích ông là đặt dân mình đúng với Đức Chúa Trời. Được cảm hứng bởi mục đích lớn lao, ông dốc hết sức lực để hoàn thành. Sự liêm chính cao cả, không lay chuyển đánh dấu nỗ lực ông. Khi đối mặt với điều ác và sự chống đối lẽ phải, ông đứng vững đến mức dân chúng được khơi dậy lao động với nhiệt thành và can đảm mới. Họ không thể không nhận ra lòng trung thành, lòng yêu nước và tình yêu sâu sắc ông dành cho Đức Chúa Trời; và thấy điều này, họ sẵn lòng theo ông dẫn dắt. {PK 675.3}
Sự siêng năng trong bổn phận Đức Chúa Trời chỉ định là phần quan trọng của tôn giáo thật. Con người nên nắm lấy hoàn cảnh như khí cụ Đức Chúa Trời dùng để thực hiện ý Ngài. Hành động nhanh chóng và dứt khoát đúng lúc sẽ giành chiến thắng vinh hiển, trong khi trì hoãn và bỏ bê dẫn đến thất bại và làm ô danh Đức Chúa Trời. Nếu các lãnh đạo trong sự nghiệp lẽ thật không có nhiệt thành, nếu họ thờ ơ và vô mục đích, hội thánh sẽ lười biếng, ham thích khoái lạc; nhưng nếu họ đầy mục đích thánh khiết để phục sự chỉ một mình Ngài, dân chúng sẽ hiệp một, hy vọng, hăng hái. {PK 676.1}
Lời Đức Chúa Trời tràn đầy những sự đối lập sắc nét và nổi bật. Tội lỗi và sự thánh khiết được đặt cạnh nhau, để khi nhìn thấy chúng ta tránh cái này và chấp nhận cái kia. Các trang mô tả lòng thù hận, dối trá và phản bội của San-bạt-lát và Tô-bi-a cũng mô tả sự cao quý, tận tụy và hy sinh bản thân của Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi. Chúng ta được tự do bắt chước một trong hai, tùy chọn. Kết quả kinh hoàng của việc vi phạm lệnh Đức Chúa Trời được đặt đối lập với phước lành từ sự vâng lời. Chính chúng ta phải quyết định sẽ chịu cái này hay hưởng cái kia. {PK 676.2}
Công việc phục hồi và cải cách do những người lưu đày trở về thực hiện dưới sự lãnh đạo của Xê-ru-ba-bên, Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi trình bày bức tranh về công việc phục hồi thuộc linh sẽ được thực hiện trong những ngày cuối cùng của lịch sử trái đất này. Phần còn sót lại Y-sơ-ra-ên là một dân yếu đuối, phơi mình trước sự tàn phá của kẻ thù; nhưng qua họ Đức Chúa Trời định giữ gìn trên đất sự tri thức về Ngài và luật pháp Ngài. Họ là người giữ gìn sự thờ phượng thật, người giữ các lời thánh. Các trải nghiệm đa dạng đã đến với họ khi xây lại đền thờ và tường thành Giê-ru-sa-lem; sự chống đối mạnh mẽ họ phải đối mặt. Gánh nặng nặng nề đè trên các lãnh đạo trong công việc này; nhưng những người này tiến bước với sự tin cậy không lay chuyển, trong lòng khiêm nhường và sự nương cậy vững vàng nơi Đức Chúa Trời, tin rằng Ngài sẽ khiến lẽ thật Ngài chiến thắng. Như vua Hê-xê-ki-a, Nê-hê-mi “bám chặt lấy Đức Giê-hô-va, không lìa bỏ theo Ngài, nhưng giữ các điều răn Ngài…. Và Đức Giê-hô-va ở cùng ông.” 2 Các Vua 18:6, 7. {PK 677.1}
Sự phục hồi thuộc linh mà công việc thực hiện trong thời Nê-hê-mi là biểu tượng được phác họa trong lời Ê-sai: “Họ sẽ xây những nơi hoang phế cũ, họ sẽ dựng lại những sự đổ nát trước kia, và họ sẽ sửa chữa các thành hoang vu.” “Những kẻ thuộc về ngươi sẽ xây những nơi hoang phế cũ: ngươi sẽ dựng lại nền móng nhiều thế hệ; và ngươi sẽ được gọi là Người Sửa Chữa Lỗ Hổng, Người Phục Hồi Đường Lối Để Ở.” Ê-sai 61:4; 58:12. {PK 677.2}
Tiên tri ở đây mô tả một dân, trong thời kỳ bội nghịch chung khỏi lẽ thật và công bình, đang tìm cách phục hồi các nguyên tắc là nền tảng vương quốc Đức Chúa Trời. Họ là những người sửa chữa lỗ hổng đã được làm trong luật pháp Đức Chúa Trời – bức tường Ngài đã đặt quanh những kẻ được chọn để bảo vệ họ, và sự vâng phục các điều răn công bình, lẽ thật và tinh sạch của Ngài là sự bảo vệ vĩnh viễn của họ. {PK 677.3}
Bằng những lời rõ ràng không thể nhầm lẫn, tiên tri chỉ ra công việc cụ thể của phần còn sót lại này khi xây tường thành. “Nếu ngươi quay chân khỏi ngày Sa-bát, khỏi làm ý thích mình trong ngày thánh Ta; và gọi ngày Sa-bát là niềm vui, ngày thánh của Đức Giê-hô-va, đáng kính; và tôn vinh Ngài, không làm theo đường lối mình, không tìm ý thích mình, không nói lời mình: thì ngươi sẽ vui mừng trong Đức Giê-hô-va; Ta sẽ khiến ngươi cỡi trên các nơi cao của đất, và nuôi ngươi bằng cơ nghiệp Gia-cốp cha ngươi: vì miệng Đức Giê-hô-va đã phán vậy.” Ê-sai 58:13, 14. {PK 678.1}
Trong thời kỳ cuối cùng mọi định chế thần thánh đều phải được phục hồi. Lỗ hổng được làm trong luật pháp khi ngày Sa-bát bị con người thay đổi phải được sửa chữa. Phần còn sót lại của Đức Chúa Trời, đứng trước thế gian như những nhà cải cách, phải cho thấy luật pháp Đức Chúa Trời là nền tảng mọi cải cách bền vững và ngày Sa-bát của điều răn thứ tư phải đứng như kỷ niệm sáng tạo, lời nhắc nhở liên tục về quyền năng Đức Chúa Trời. Bằng những đường nét rõ ràng, họ phải trình bày sự cần thiết vâng phục mọi điều răn Thập Giới. Bị ràng buộc bởi tình yêu Đấng Christ, họ phải hợp tác với Ngài trong việc xây dựng những nơi hoang phế. Họ phải là những người sửa chữa lỗ hổng, những người phục hồi đường lối để ở. Xem câu 12. {PK 678.2}
