Chương 15 — Giô-sa-phát

Cho đến khi được gọi lên ngôi lúc ba mươi lăm tuổi, Giô-sa-phát có trước mặt gương của vua A-sa lành, người trong gần như mọi cơn khủng hoảng đã làm “điều ngay thẳng trước mặt YHWH.” I Các Vua 15:11. Trong một triều đại thịnh vượng kéo dài hai mươi lăm năm, Giô-sa-phát tìm cách đi “trong mọi đường lối của A-sa cha mình; ông không xây khỏi.” {PK 190.1}

Trong nỗ lực cai trị khôn ngoan, Giô-sa-phát cố gắng thuyết phục dân sự ông đứng vững chống lại những phong tục thờ hình tượng. Nhiều người trong vương quốc ông “vẫn dâng và đốt hương tại những nơi cao.” I Các Vua 22:43. Vua không lập tức phá hủy những nơi thờ phượng này; nhưng từ lúc bắt đầu ông cố gắng bảo vệ Giu-đa khỏi những tội lỗi đặc trưng cho vương quốc phương bắc dưới sự cai trị của A-háp, người mà ông là người đương thời trong nhiều năm. Chính Giô-sa-phát trung tín với Đức Chúa Trời. Ông “không tìm kiếm Ba-anh; nhưng tìm kiếm YHWH Đức Chúa Trời của cha mình, và đi trong các điều răn Ngài, và không theo những việc làm của Is-ra-ên.” Vì sự liêm chính của ông, YHWH ở cùng ông, và “lập vững vương quốc trong tay ông.” II Sử Ký 17:3-5. {PK 190.2}

“Hết thảy Giu-đa đem lễ vật đến cho Giô-sa-phát; và ông có sự giàu có và vinh dự dồi dào. Và lòng ông được nâng cao trong các đường lối của YHWH.” Khi thời gian trôi qua và những cuộc cải chánh được thực hiện, vua “cất đi những nơi cao và những thần tượng rừng khỏi Giu-đa.” Các câu 5, 6. “Và những kẻ sót lại của dân Sô-đôm, những kẻ còn lại trong những ngày A-sa cha ông, ông cất khỏi đất.” I Các Vua 22:46. Như vậy dần dần dân cư Giu-đa được giải thoát khỏi nhiều nguy hiểm đã đe dọa nghiêm trọng sự phát triển thuộc linh của họ. {PK 191.1}

Khắp vương quốc dân sự cần được dạy dỗ trong luật pháp Đức Chúa Trời. Trong sự hiểu biết luật pháp này nằm sự an toàn của họ; bằng cách làm cho đời sống họ phù hợp với những đòi hỏi của nó họ sẽ trở nên trung tín cả với Đức Chúa Trời lẫn với loài người. Biết điều này, Giô-sa-phát đã thực hiện những bước để đảm bảo cho dân sự ông được dạy dỗ kỹ lưỡng trong Kinh Thư thánh. Các quan trưởng chịu trách nhiệm các phần khác nhau của vương quốc ông được truyền sắp xếp cho những thầy tế lễ dạy dỗ trung tín hầu việc. Theo lệnh vua, những người dạy dỗ này, làm việc dưới sự giám sát trực tiếp của các quan trưởng, “đi khắp hết thảy các thành của Giu-đa, và dạy dân sự.” II Sử Ký 17:7-9. Và khi nhiều người nỗ lực hiểu những đòi hỏi của Đức Chúa Trời và bỏ tội lỗi, một cuộc phục hưng được thực hiện. {PK 191.2}

Nhờ sự sắp đặt khôn ngoan này cho nhu cầu thuộc linh của dân sự mình, Giô-sa-phát nợ phần lớn sự thịnh vượng của ông như một người cai trị. Trong sự vâng lời luật pháp Đức Chúa Trời có sự lợi lớn. Trong sự phù hợp với những đòi hỏi thần thánh có một quyền năng biến đổi mang lại sự bình an và lòng tốt giữa loài người. Nếu những lời dạy của Lời Đức Chúa Trời trở thành ảnh hưởng kiểm soát trong đời sống của mọi người nam người nữ, nếu tâm trí và trái tim được đem dưới quyền năng kiềm chế của nó, thì những điều gian ác hiện tồn tại trong đời sống quốc gia và xã hội sẽ không có chỗ. Từ mọi nhà sẽ tỏa ra một ảnh hưởng làm cho người nam người nữ mạnh mẽ trong sự nhìn thấu thuộc linh và trong quyền năng đạo đức, và như vậy các dân tộc và cá nhân sẽ được đặt trên nền tảng thuận lợi. {PK 192.1}

Trong nhiều năm Giô-sa-phát sống trong sự bình an, không bị các dân tộc chung quanh quấy rối. “Sự kính sợ YHWH giáng trên hết thảy vương quốc của những xứ chung quanh Giu-đa.” Câu 10. Từ Phi-li-tin ông nhận tiền cống nạp và lễ vật; từ A-ra-bi, những bầy chiên và dê lớn. “Giô-sa-phát trở nên rất lớn; và ông xây trong Giu-đa những đồn lũy, và những thành chứa lương thực…. Những người chiến sĩ, những người mạnh mẽ dũng cảm, … hầu việc vua, ngoài những kẻ mà vua đặt trong những thành kiên cố khắp Giu-đa.” Các câu 12-19. Được ban phước dồi dào với “sự giàu có và vinh dự,” ông có khả năng gây ảnh hưởng mạnh mẽ cho Chân Lý và sự công chính. II Sử Ký 18:1. {PK 192.2}

Một số năm sau khi lên ngôi, Giô-sa-phát, nay đang ở đỉnh cao của sự thịnh vượng, đồng ý cho con trai mình là Giê-hô-ram cưới A-tha-li-a, con gái A-háp và Giê-xa-bên. Bởi cuộc hôn nhân này một giao ước được lập giữa vương quốc Giu-đa và Is-ra-ên, giao ước không theo trật tự của Đức Chúa Trời và trong lúc khủng hoảng đã đem tai họa đến cho vua và cho nhiều người trong dân sự ông. {PK 192.3}

Trong một dịp Giô-sa-phát đến thăm vua Is-ra-ên tại Sa-ma-ri. Vinh dự đặc biệt được bày tỏ cho vị khách hoàng gia từ Giê-ru-sa-lem, và trước khi chuyến thăm kết thúc ông bị thuyết phục hợp sức với vua Is-ra-ên trong cuộc chiến nghịch cùng dân Sy-ri. A-háp hy vọng rằng bằng cách hợp quân lực mình với lực lượng của Giu-đa hắn có thể chiếm lại Ra-mốt, một trong những thành trú ẩn cổ xưa, mà hắn cho rằng thuộc về dân Is-ra-ên một cách chính đáng. {PK 195.1}

Mặc dù Giô-sa-phát trong khoảnh khắc yếu đuối đã hấp tấp hứa hợp sức với vua Is-ra-ên trong cuộc chiến nghịch cùng dân Sy-ri, thế mà sự phán xét tốt hơn của ông dẫn ông tìm cách biết ý muốn của Đức Chúa Trời về việc thực hiện này. “Xin hãy hỏi hôm nay tại lời của YHWH,” ông gợi ý với A-háp. Đáp lại, A-háp triệu tập bốn trăm tiên tri giả của Sa-ma-ri, và hỏi chúng: “Chúng ta có nên đi đánh trận tại Ra-mốt Ga-la-át không, hay ta nên kiêng?” Và chúng đáp: “Hãy lên; vì Đức Chúa Trời sẽ phó nó vào tay vua.” Các câu 4, 5. {PK 195.2}

Không hài lòng, Giô-sa-phát tìm cách biết chắc chắn ý muốn của Đức Chúa Trời. “Chẳng lẽ ở đây không có một tiên tri của YHWH,” ông hỏi, “để chúng ta có thể hỏi ý Ngài?” Câu 6. “Còn một người, Mi-cai-a con trai Im-la, bởi người chúng ta có thể hỏi ý YHWH,” A-háp đáp; “nhưng ta ghét người; vì người không nói tiên tri điều lành về ta, mà nói điều dữ.” I Các Vua 22:8. Giô-sa-phát kiên quyết đòi gọi người của Đức Chúa Trời; và khi xuất hiện trước họ và bị A-háp buộc phải nói “chẳng điều gì khác hơn điều chân thật nhân danh YHWH,” Mi-cai-a nói: “Ta thấy hết thảy Is-ra-ên bị rải rác trên các núi, như chiên không có người chăn: và YHWH phán, Những kẻ này không có chủ: hãy để chúng nó mỗi người trở về nhà mình trong sự bình an.” Các câu 16, 17. {PK 195.3}

Lời của tiên tri lẽ ra đủ để cho các vua thấy dự án của họ không được trời ưng thuận, nhưng không vua nào cảm thấy muốn lắng nghe lời cảnh cáo. A-háp đã vạch ra đường lối mình, và hắn quyết định theo nó. Giô-sa-phát đã ban lời hứa danh dự, “Chúng ta sẽ ở cùng ngươi trong cuộc chiến;” và sau khi đưa ra lời hứa như vậy, ông miễn cưỡng rút quân lực mình. II Sử Ký 18:3. “Vậy vua Is-ra-ên và Giô-sa-phát vua Giu-đa lên Ra-mốt Ga-la-át.” I Các Vua 22:29. {PK 196.1}

Trong cuộc chiến theo sau, A-háp bị tên bắn trúng, và lúc chiều tối hắn chết. “Khoảng lúc mặt trời lặn,” “có một lời rao truyền khắp đạo binh,” “Mỗi người về thành mình, và mỗi người về xứ mình.” Câu 36. Như vậy lời của tiên tri được ứng nghiệm. {PK 196.2}

Từ cuộc chiến tai hại này Giô-sa-phát trở về Giê-ru-sa-lem. Khi ông đến gần thành, tiên tri Giê-hu gặp ông với lời quở trách: “Ngươi há nên giúp kẻ không tin kính, và yêu kẻ ghét YHWH sao? vậy có cơn thạnh nộ từ trước mặt YHWH giáng trên ngươi. Tuy nhiên có những điều lành được tìm thấy trong ngươi, trong việc ngươi đã cất những thần tượng rừng khỏi đất, và đã chuẩn bị lòng ngươi để tìm kiếm Đức Chúa Trời.” II Sử Ký 19:2, 3. {PK 196.3}

Những năm sau của triều đại Giô-sa-phát phần lớn được dành để củng cố sự phòng thủ quốc gia và thuộc linh của Giu-đa. Ông “lại đi ra giữa dân sự từ Bê-e-rơ-sê-ba đến núi Ép-ra-im, và dẫn họ trở lại cùng YHWH Đức Chúa Trời của tổ phụ họ.” Câu 4. {PK 196.4}

Một trong những bước quan trọng mà vua thực hiện là lập và duy trì những tòa án công bình hiệu quả. Ông “đặt quan xét trong đất khắp hết thảy các thành kiên cố của Giu-đa, thành này đến thành khác;” và trong lời giao phó cho họ ông khuyên: “Hãy giữ mình điều các ngươi làm: vì các ngươi không phán xét cho loài người, nhưng cho YHWH, Đấng ở cùng các ngươi trong sự phán xét. Vậy bây giờ hãy để sự kính sợ YHWH ở trên các ngươi; hãy giữ mình và làm điều đó: vì không có sự gian ác với YHWH Đức Chúa Trời chúng ta, cũng không thiên vị người, cũng không nhận của hối lộ.” Các câu 5-7. {PK 197.1}

Hệ thống tư pháp được hoàn thiện bởi việc lập một tòa án thượng thẩm tại Giê-ru-sa-lem, nơi Giô-sa-phát “đặt người Lê-vi, và người thầy tế lễ, và những trưởng tộc của Is-ra-ên, để phán xét việc của YHWH, và để giải quyết những tranh cãi.” Câu 8. {PK 197.2}

Vua khuyên những quan xét này phải trung tín. “Các ngươi phải làm như vậy trong sự kính sợ YHWH, cách trung tín, và với một trái tim trọn vẹn,” ông giao phó họ. “Và phàm việc tranh tụng nào đến với các ngươi từ anh em các ngươi đang ở trong các thành mình, giữa huyết và huyết, giữa luật pháp và điều răn, luật lệ và phán xét, các ngươi phải cảnh cáo họ để họ đừng phạm tội nghịch cùng YHWH, và như vậy cơn thạnh nộ giáng trên các ngươi, và trên anh em các ngươi: hãy làm điều này, và các ngươi sẽ không phạm tội. {PK 197.3}

Và kìa, A-ma-ri-a thầy tế lễ thượng phẩm cai quản các ngươi trong mọi việc của YHWH; và Xê-ba-đia con trai Ít-ma-ên, người cai trị nhà Giu-đa, về mọi việc của vua: cũng người Lê-vi sẽ làm quan chức trước mặt các ngươi. {PK 197.4}

Hãy làm cách dũng cảm, và YHWH sẽ ở cùng người lành.” Các câu 9-11. {PK 198.1}

Trong việc cẩn thận bảo vệ quyền lợi và tự do của dân sự mình, Giô-sa-phát nhấn mạnh sự cân nhắc rằng mọi thành viên trong gia đình loài người đều nhận từ Đức Chúa Trời công bình, Đấng cai trị trên tất cả. “Đức Chúa Trời đứng trong hội chúng của những đấng mạnh mẽ; Ngài phán xét giữa các thần.” Và những kẻ được bổ nhiệm hành động như quan xét dưới Ngài, phải “bênh vực kẻ nghèo và kẻ mồ côi;” họ phải “làm công bình cho kẻ bị khốn khổ và kẻ thiếu thốn,” và “cứu chúng nó khỏi tay kẻ ác.” Thi Ca 82:1, 3, 4. {PK 198.2}

Về cuối triều đại Giô-sa-phát vương quốc Giu-đa bị một đạo binh xâm lược, trước sự tiến đến của đạo binh này dân cư đất có lý do để run sợ. “Con cái Mô-áp, và con cái Am-môn, và với chúng nó những kẻ khác ngoài dân Am-môn, đến nghịch cùng Giô-sa-phát để đánh trận.” Tin tức về cuộc xâm lược này đến với vua qua một sứ giả, người xuất hiện với lời kinh hoàng: “Có một đám đông lớn đến nghịch cùng ngươi từ bên kia biển bên này Sy-ri: và kìa, chúng nó ở tại Ha-xa-xôn-ta-ma, tức là En-gê-đi.” II Sử Ký 20:1, 2. {PK 198.3}

Giô-sa-phát là người có dũng khí và can đảm. Trong nhiều năm ông đã củng cố đạo binh và những thành kiên cố của mình. Ông được chuẩn bị tốt để đối phó hầu như bất kỳ kẻ thù nào; tuy nhiên trong cơn khủng hoảng này ông không đặt niềm tin vào cánh tay thịt. Không phải bởi những đạo binh được huấn luyện và những thành kiên cố, mà bởi đức tin sống nơi Đức Chúa Trời của Is-ra-ên, ông mới có thể hy vọng thắng những dân ngoại khoe khoang quyền năng làm nhục Giu-đa trước mắt các dân tộc. {PK 198.4}

“Giô-sa-phát sợ hãi, và đặt lòng mình tìm kiếm YHWH, và rao truyền kiêng ăn khắp Giu-đa. Và Giu-đa nhóm lại cùng nhau, để cầu xin sự giúp đỡ của YHWH: thậm chí từ hết thảy các thành của Giu-đa họ đến để tìm kiếm YHWH.” {PK 199.1}

Đứng trong sân đền thờ trước dân sự mình, Giô-sa-phát đổ linh hồn mình trong lời cầu nguyện, nài xin những lời hứa của Đức Chúa Trời, với sự xưng tội về sự bất lực của Is-ra-ên. “Hỡi YHWH Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi” ông nài xin, “Ngài há chẳng phải là Đức Chúa Trời trên trời sao? và Ngài há chẳng cai trị trên hết thảy vương quốc của dân ngoại sao? và trong tay Ngài há chẳng có quyền năng và sức mạnh, đến nỗi không ai có thể chống cự Ngài? Ngài há chẳng phải là Đức Chúa Trời chúng tôi, Đấng đã đuổi dân cư đất này khỏi trước mặt dân sự Is-ra-ên chúng tôi, và ban đất ấy cho dòng giống Áp-ra-ham bạn hữu Ngài đời đời? Và chúng nó ở trong đó, và đã xây cho Ngài một nơi thánh trong đó cho danh Ngài, rằng, Nếu tai ương giáng trên chúng tôi, như gươm, sự phán xét, hoặc ôn dịch, hoặc nạn đói, chúng tôi đứng trước nhà này, và trước mặt Ngài, (vì danh Ngài ở trong nhà này,) và kêu cầu Ngài trong nỗi khốn nạn chúng tôi, thì Ngài sẽ nghe và giúp đỡ. {PK 199.2}

Và nay, kìa, con cái Am-môn và Mô-áp và núi Sê-i-rơ, là những kẻ Ngài không cho Is-ra-ên xâm lược khi chúng nó ra khỏi đất Ai Cập, nhưng chúng nó xây khỏi chúng nó, và không diệt chúng nó; kìa, tôi nói, chúng nó báo đáp chúng tôi thế nào, đến để đuổi chúng tôi khỏi cơ nghiệp Ngài, là đất Ngài đã ban cho chúng tôi để thừa hưởng. Hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi, Ngài há chẳng phán xét chúng nó sao? vì chúng tôi không có sức chống lại đám đông lớn này đến nghịch cùng chúng tôi; cũng không biết phải làm gì: nhưng mắt chúng tôi ngước nhìn Ngài.” Các câu 3-12. {PK 199.3}

Với niềm tin chắc chắn Giô-sa-phát có thể nói với YHWH, “Mắt chúng tôi ngước nhìn Ngài.” Trong nhiều năm ông đã dạy dân sự tin cậy Đấng trong các thời đại qua đã thường can thiệp để cứu những kẻ được chọn của Ngài khỏi sự hủy diệt hoàn toàn; và nay, khi vương quốc đang nguy nan, Giô-sa-phát không đứng một mình; “hết thảy Giu-đa đứng trước mặt YHWH, với con cái nhỏ của chúng nó, vợ chúng nó, và con cái chúng nó.” Câu 13. Họ hợp sức kiêng ăn và cầu nguyện; hợp sức họ nài xin YHWH làm cho kẻ thù họ rối loạn, để danh của YHWH được vinh hiển. {PK 200.1}

“Xin đừng nín lặng, hỡi Đức Chúa Trời:
Xin đừng giữ sự yên lặng, và đừng im lặng, hỡi Đức Chúa Trời.
Vì kìa, kẻ thù Ngài làm ồn ào:
Và những kẻ ghét Ngài đã ngước đầu lên.
Chúng nó đã lập mưu khôn ngoan nghịch cùng dân sự Ngài,
Và bàn bạc nghịch cùng những kẻ ẩn náu của Ngài.
Chúng nó đã nói, Hãy đến, và chúng ta hãy cắt đứt chúng nó khỏi làm một dân tộc;
Để danh Is-ra-ên không còn được nhớ nữa.
Vì chúng nó đã bàn bạc cùng nhau cách đồng lòng:
Chúng nó liên minh nghịch cùng Ngài:
Những trại của Ê-đôm, và dân Ít-ma-ên;
Của Mô-áp, và dân Ha-ga;
Ghê-banh, và Am-môn, và A-ma-léc….
Xin làm cho chúng nó như dân Mi-đi-an;
Như Si-sê-ra, như Gia-bin, tại khe Ki-sôn: …
Xin cho chúng nó bị xấu hổ và rối loạn đời đời;
Phải, xin cho chúng nó bị sỉ nhục, và bị diệt:
Để loài người biết rằng Ngài, danh Ngài chỉ một mình là YHWH,
Là Đấng Chí Cao trên khắp đất.” Thi Ca 83. {PK 200.2}

Khi dân sự hợp sức với vua mình trong việc khiêm nhường mình trước Đức Chúa Trời, và xin Ngài giúp đỡ, Thánh Linh của YHWH đến trên Gia-ha-xi-ên, “một người Lê-vi trong con cháu A-sáp,” và ông nói: {PK 201.1}

“Hãy nghe, hỡi hết thảy Giu-đa, và hỡi dân cư Giê-ru-sa-lem, và hỡi vua Giô-sa-phát, YHWH phán với các ngươi như vầy, Đừng sợ hãi cũng đừng kinh hoảng vì đám đông lớn này; vì cuộc chiến không phải của các ngươi, nhưng của Đức Chúa Trời. Ngày mai hãy xuống nghịch cùng chúng nó: kìa, chúng nó lên theo vách đá Xít; và các ngươi sẽ gặp chúng nó ở cuối khe, trước đồng hoang Giê-ru-ên. Các ngươi sẽ không cần đánh trận trong cuộc chiến này: hãy đứng vững, đứng yên, và xem sự cứu rỗi của YHWH ở cùng các ngươi, hỡi Giu-đa và Giê-ru-sa-lem: đừng sợ hãi, cũng đừng kinh hoảng; ngày mai hãy ra nghịch cùng chúng nó: vì YHWH sẽ ở cùng các ngươi.” {PK 201.2}

“Giô-sa-phát cúi đầu mình với mặt úp xuống đất: và hết thảy Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem sấp mình xuống trước mặt YHWH, thờ phượng YHWH. Và người Lê-vi, trong con cháu Kê-hát, và trong con cháu Kô-rê, đứng dậy để ngợi khen YHWH Đức Chúa Trời của Is-ra-ên bằng tiếng lớn trên cao.” {PK 201.3}

Sớm buổi sáng họ đứng dậy và đi vào đồng hoang Tê-cô-a. Khi họ tiến lên cuộc chiến, Giô-sa-phát nói, “Hãy nghe ta, hỡi Giu-đa, và hỡi dân cư Giê-ru-sa-lem; Hãy tin cậy YHWH Đức Chúa Trời các ngươi, thì các ngươi sẽ được lập vững; hãy tin các tiên tri Ngài, thì các ngươi sẽ được thịnh vượng.” “Và khi ông đã bàn bạc với dân sự, ông bổ nhiệm những người ca hát cho YHWH, và những kẻ sẽ ngợi khen vẻ đẹp của sự thánh khiết.” II Sử Ký 20:14-21. Những người ca hát này đi trước đạo binh, cất tiếng ngợi khen Đức Chúa Trời vì lời hứa chiến thắng. {PK 201.4}

Đó là một cách lạ lùng để đi ra chiến trận nghịch cùng đạo binh kẻ thù—ngợi khen YHWH bằng ca hát, và tôn cao Đức Chúa Trời của Is-ra-ên. Đây là bài ca chiến đấu của họ. Họ có vẻ đẹp của sự thánh khiết. Nếu ngày nay có nhiều sự ngợi khen Đức Chúa Trời hơn, hy vọng và dũng cảm và đức tin sẽ càng ngày càng tăng. Và điều này há chẳng làm mạnh tay những chiến sĩ dũng cảm ngày nay đang đứng bênh vực Chân Lý sao? {PK 202.1}

“YHWH đặt những kẻ phục kích nghịch cùng con cái Am-môn, Mô-áp, và núi Sê-i-rơ, là những kẻ đã đến nghịch cùng Giu-đa; và chúng nó bị đánh bại. Vì con cái Am-môn và Mô-áp đứng dậy nghịch cùng dân cư núi Sê-i-rơ, để diệt và hủy diệt chúng nó hoàn toàn: và khi chúng nó đã diệt dân cư Sê-i-rơ, thì mỗi người giúp nhau hủy diệt nhau. {PK 202.2}

Và khi Giu-đa đến gần tháp canh trong đồng hoang, chúng nó nhìn xem đám đông, và kìa, chúng nó là những xác chết ngã xuống đất, và không ai thoát.” Các câu 22-24. {PK 202.3}

Đức Chúa Trời là sức mạnh của Giu-đa trong cơn khủng hoảng này, và Ngài là sức mạnh của dân sự Ngài ngày nay. Chúng ta không được tin cậy vào các quan trưởng, hoặc đặt loài người thay cho Đức Chúa Trời. Chúng ta phải nhớ rằng loài người là kẻ hay sai lầm và hay phạm lỗi, và rằng Đấng có mọi quyền năng là tháp đồn bảo vệ mạnh mẽ của chúng ta. Trong mọi cơn khủng hoảng chúng ta phải cảm thấy rằng cuộc chiến là của Ngài. Những nguồn lực của Ngài là vô hạn, và những điều dường như không thể sẽ làm cho chiến thắng càng lớn hơn. {PK 202.4}

“Xin cứu chúng tôi, hỡi Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi chúng tôi,
Và nhóm chúng tôi lại,
Và giải cứu chúng tôi khỏi dân ngoại,
Để chúng tôi có thể cảm tạ danh thánh Ngài,
Và vinh hiển trong sự ngợi khen Ngài.” I Sử Ký 16:35. {PK 202.5}

Mang đầy chiến lợi phẩm, đạo binh Giu-đa trở về “với sự vui mừng; vì YHWH đã làm cho chúng nó vui mừng trên kẻ thù mình. Và chúng nó đến Giê-ru-sa-lem với đờn cầm và đờn sắt và kèn đến nhà YHWH.” II Sử Ký 20:27, 28. Nguyên nhân vui mừng của chúng nó thật lớn. Trong sự vâng lời lệnh, “Hãy đứng yên, và xem sự cứu rỗi của YHWH: … đừng sợ hãi, cũng đừng kinh hoảng,” chúng nó đã đặt niềm tin trọn vẹn nơi Đức Chúa Trời, và Ngài đã chứng tỏ là đồn lũy và Đấng giải cứu của chúng nó. Câu 17. Nay chúng nó có thể hát với sự hiểu biết những thánh ca được cảm thúc của Đa-vít: {PK 203.1}

“Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức mạnh chúng tôi,
Một sự giúp đỡ rất hiện diện trong lúc hoạn nạn….
Ngài bẻ gãy cung, và chém gươm ra từng mảnh;
Ngài thiêu xe trong lửa.
Hãy yên lặng, và biết rằng Ta là Đức Chúa Trời:
Ta sẽ được tôn cao giữa dân ngoại, Ta sẽ được tôn cao trên đất.
YHWH muôn quân ở cùng chúng ta;
Đức Chúa Trời của Gia-cốp là nơi nương náu chúng ta.” Thi Ca 46. {PK 203.2}

“Theo danh Ngài, hỡi Đức Chúa Trời,
Vậy sự ngợi khen Ngài đến cuối cùng trái đất:
Tay hữu Ngài đầy dẫy sự công bình.
Hỡi núi Si-ôn, hãy vui mừng,
Hỡi các con gái Giu-đa, hãy hân hoan
Vì những sự phán xét của Ngài…{PK 203.3}

“Đức Chúa Trời này là Đức Chúa Trời của chúng ta đời đời vô cùng;
Ngài sẽ dẫn dắt chúng ta cho đến khi chết.” (Thi Thiên 48:10–14) {PK 203.4}

Nhờ đức tin của vua Giu-đa và của đạo binh mình, “sự kính sợ Đức Chúa Trời giáng trên mọi nước ở các xứ ấy, khi họ nghe rằng Đức Giê-hô-va đã chiến đấu nghịch cùng kẻ thù của Y-sơ-ra-ên. Vậy nước của Giê-hô-sa-phát được bình an, vì Đức Chúa Trời người ban cho người sự an nghỉ.” (2 Sử Ký 20:29–30) {PK 203.5}