Chương 26 — Tại Ca-bê-na-um

Tại Ca-bê-na-um, Giê-su lưu lại trong những khoảng thời gian giữa các chuyến đi đây đó của Ngài, và nơi ấy được gọi là “thành của chính Ngài.” Thành nằm bên bờ Biển Ga-li-lê, gần ranh giới của cánh đồng xinh đẹp Ghê-nê-sa-rết, nếu không muốn nói là ngay trên cánh đồng ấy. {DA 252.1}

Vùng trũng sâu của hồ đem lại cho cánh đồng ven bờ một khí hậu ấm áp như miền nam. Vào thời của Đấng Christ, nơi đây phát triển rực rỡ cây chà là và cây ô-li-ve; có những vườn cây ăn trái và vườn nho, những cánh đồng xanh tươi và hoa nở rực rỡ trong sự phong phú tràn đầy, tất cả đều được tưới bởi những dòng nước sống tuôn trào từ các vách đá. Dọc bờ hồ và trên các đồi bao quanh ở một khoảng cách không xa, rải rác là những thành và làng. Hồ đầy thuyền đánh cá. Khắp nơi là sự nhộn nhịp của đời sống bận rộn, năng động. {DA 252.2}

Chính Ca-bê-na-um rất thích hợp để làm trung tâm cho công việc của Đấng Cứu Độ. Vì nằm trên trục đường lớn từ Đa-mách đến Giê-ru-sa-lem và Ai Cập, và ra đến Địa Trung Hải, đây là tuyến giao thông quan trọng. Người từ nhiều xứ đi ngang qua thành, hoặc dừng lại nghỉ chân trong hành trình của họ. Tại đây, Chúa Giê-su có thể gặp mọi dân tộc và mọi tầng lớp, người giàu và người quyền quý cũng như người nghèo và thấp hèn; và những bài học của Ngài sẽ được truyền sang các xứ khác và vào nhiều gia đình. Nhờ đó, việc nghiên cứu các lời tiên tri sẽ được khơi dậy, sự chú ý sẽ được hướng về Đấng Cứu Độ, và sứ mạng của Ngài sẽ được đặt trước thế gian. {DA 252.3}

Bất chấp hành động của hội đồng San-he-drin chống lại Chúa Giê-su, dân chúng vẫn nóng lòng chờ đợi sự phát triển của sứ mạng Ngài. Cả thiên đàng đều xao động vì quan tâm. Các thiên sứ đang chuẩn bị đường cho chức vụ của Ngài, cảm động lòng người và kéo họ đến với Đấng Cứu Độ. {DA 253.1}

Tại Ca-bê-na-um, con trai của vị quan quyền quý mà Đấng Christ đã chữa lành là một chứng nhân cho quyền năng của Ngài. Vị quan triều đình và cả gia đình ông vui mừng làm chứng về đức tin của mình. Khi biết rằng chính Thầy đang ở giữa họ, cả thành đều rúng động. Đám đông tuôn đến trước mặt Ngài. Vào ngày Sa-bát, dân chúng chật kín nhà hội đến nỗi nhiều người phải quay về vì không thể vào được. {DA 253.2}

Tất cả những ai nghe Đấng Cứu Độ “đều kinh ngạc về sự dạy dỗ của Ngài: vì lời của Ngài có quyền năng.” “Ngài dạy họ như một Đấng có thẩm quyền, chớ không như các thầy thông giáo.” Lu-ca 4:32; Ma-thi-ơ 7:29. Sự dạy dỗ của các thầy thông giáo và trưởng lão thì lạnh lẽo và hình thức, như một bài học thuộc lòng. Đối với họ, lời Đức Chúa Trời không có quyền năng sống động. Những ý tưởng và truyền thống riêng của họ được thay thế cho sự dạy dỗ của lời ấy. Trong vòng nghi thức quen thuộc của mình, họ tự nhận là giải thích luật pháp, nhưng không có sự cảm thúc nào từ Đức Chúa Trời lay động lòng họ hay lòng người nghe. {DA 253.3}

Giê-su không dính líu gì đến những đề tài tranh cãi khác nhau giữa người Do Thái. Công việc của Ngài là trình bày lẽ thật. Lời Ngài chiếu rọi ánh sáng tràn đầy trên sự dạy dỗ của các tổ phụ và các tiên tri, và Kinh Thư đến với loài người như một sự mặc khải mới. Chưa bao giờ những người nghe Ngài nhận ra chiều sâu ý nghĩa như thế trong lời Đức Chúa Trời. {DA 253.4}

Chúa Giê-su gặp dân chúng ngay trên nền tảng của họ, như một Đấng quen thuộc với những bối rối của họ. Ngài làm cho lẽ thật trở nên đẹp đẽ bằng cách trình bày trực tiếp và đơn sơ nhất. Ngôn ngữ của Ngài tinh khiết, trang nhã, và rõ ràng như dòng suối chảy. Giọng nói của Ngài như âm nhạc đối với những ai từng nghe giọng đơn điệu của các ra-bi. Nhưng dù sự dạy dỗ của Ngài đơn giản, Ngài nói như một Đấng có thẩm quyền. Đặc điểm này khiến sự dạy dỗ của Ngài hoàn toàn khác biệt với tất cả những người khác. Các ra-bi nói với sự nghi ngờ và do dự, như thể Kinh Thư có thể được giải thích theo một nghĩa này hoặc hoàn toàn trái ngược. Người nghe ngày càng bị cuốn vào sự bất định lớn hơn. Nhưng Chúa Giê-su dạy Kinh Thư như là có thẩm quyền không thể nghi vấn. Dù đề tài của Ngài là gì, đều được trình bày với quyền năng, như thể lời Ngài không thể bị bác bỏ. {DA 253.5}

Tuy vậy, Ngài nghiêm trang hơn là gay gắt. Ngài nói như một Đấng có mục đích xác định phải hoàn thành. Ngài bày tỏ những thực tại của thế giới đời đời. Trong mỗi chủ đề, Đức Chúa Trời được bày tỏ. Chúa Giê-su tìm cách phá vỡ bùa mê khiến loài người bị cuốn hút vào những điều thuộc đất. Ngài đặt những điều của đời này vào đúng mối tương quan của chúng, như những điều phụ thuộc vào những điều có giá trị đời đời; nhưng Ngài không xem nhẹ tầm quan trọng của chúng. Ngài dạy rằng trời và đất liên kết với nhau, và rằng sự hiểu biết lẽ thật thiêng liêng chuẩn bị con người tốt hơn để chu toàn bổn phận hằng ngày. Ngài nói như một Đấng quen thuộc với thiên đàng, ý thức về mối liên hệ của Ngài với Đức Chúa Trời, nhưng vẫn nhận biết sự hiệp nhất của Ngài với mọi thành viên trong gia đình nhân loại. {DA 254.1}

Các sứ điệp thương xót của Ngài được thay đổi để phù hợp với thính giả. Ngài biết “cách nói một lời đúng lúc cho kẻ mệt mỏi” (Ê-sai 50:4); vì ân điển được đổ trên môi Ngài, để Ngài có thể truyền đạt cho loài người kho tàng lẽ thật theo cách hấp dẫn nhất. Ngài có sự khéo léo để gặp gỡ những tâm trí đầy định kiến, và làm họ ngạc nhiên bằng những minh họa thu hút sự chú ý của họ. Qua trí tưởng tượng, Ngài chạm đến tấm lòng. Những minh họa của Ngài được lấy từ những điều trong đời sống hằng ngày, và dù đơn giản, chúng chứa đựng chiều sâu ý nghĩa kỳ diệu. Chim trời, hoa huệ ngoài đồng, hạt giống, người chăn và bầy chiên — qua những hình ảnh ấy, Đấng Christ minh họa lẽ thật bất tử; và về sau, mỗi khi người nghe tình cờ nhìn thấy những điều ấy trong thiên nhiên, họ nhớ lại lời Ngài. Các minh họa của Đấng Christ liên tục nhắc lại những bài học của Ngài. {DA 254.2}

Đấng Christ không bao giờ xu nịnh loài người. Ngài không bao giờ nói điều gì để tâng bốc những tưởng tượng và suy đoán của họ, cũng không khen ngợi họ vì những phát minh khéo léo của họ; nhưng những người suy nghĩ sâu sắc và không thành kiến đã tiếp nhận sự dạy dỗ của Ngài, và nhận thấy rằng sự dạy dỗ ấy thử nghiệm sự khôn ngoan của họ. Họ kinh ngạc trước lẽ thật thiêng liêng được bày tỏ trong ngôn ngữ đơn sơ nhất. Những người học thức cao nhất bị cuốn hút bởi lời Ngài, và những người không được giáo dục luôn được ích lợi. Ngài có một sứ điệp cho người thất học; và Ngài khiến ngay cả dân ngoại cũng hiểu rằng Ngài có một sứ điệp cho họ. {DA 254.3}

Lòng thương xót dịu dàng của Ngài như một sự chạm vào chữa lành trên những tấm lòng mệt mỏi và phiền muộn. Ngay giữa sự náo động của những kẻ thù giận dữ, Ngài vẫn được bao quanh bởi một bầu không khí bình an. Vẻ đẹp của dung mạo Ngài, sự đáng yêu của phẩm hạnh Ngài, trên hết là tình yêu được bày tỏ qua ánh mắt và giọng nói, đã kéo đến với Ngài tất cả những ai chưa bị cứng lòng trong sự không tin. Nếu không có tinh thần dịu dàng và đầy cảm thông tỏa ra trong mỗi ánh nhìn và mỗi lời nói, Ngài đã không thu hút được những đoàn dân đông đảo như vậy. Những người đau khổ đến với Ngài cảm thấy rằng Ngài gắn kết mối quan tâm của Ngài với họ như một người bạn thành tín và dịu dàng, và họ mong muốn biết thêm về những lẽ thật Ngài dạy. Thiên đàng được đem đến gần. Họ khao khát được ở lại trong sự hiện diện của Ngài, để sự an ủi của tình yêu Ngài ở với họ luôn luôn. {DA 254.4}

Chúa Giê-su chăm chú quan sát sự thay đổi trên gương mặt những người nghe Ngài với sự sốt sắng sâu xa. Những khuôn mặt biểu lộ sự quan tâm và vui thích đem lại cho Ngài niềm thỏa lòng lớn lao. Khi những mũi tên của lẽ thật xuyên thấu vào linh hồn, phá vỡ những rào cản của lòng ích kỷ, làm nảy sinh sự ăn năn, và cuối cùng là lòng biết ơn, Đấng Cứu Độ được vui mừng. Khi ánh mắt Ngài lướt qua đám đông thính giả, và Ngài nhận ra trong họ những gương mặt Ngài đã từng thấy trước đó, dung mạo Ngài rạng rỡ niềm vui. Ngài nhìn thấy nơi họ những đối tượng đầy hy vọng cho vương quốc của Ngài. Khi lẽ thật, được nói cách thẳng thắn, chạm đến một thần tượng được nuông chiều nào đó, Ngài ghi nhận sự thay đổi trên nét mặt, cái nhìn lạnh lùng và khép kín cho thấy ánh sáng ấy không được hoan nghênh. Khi Ngài thấy người ta khước từ sứ điệp bình an, lòng Ngài bị đâm thấu đến tận sâu thẳm. {DA 255.1}

Trong nhà hội, Chúa Giê-su nói về vương quốc mà Ngài đã đến để thiết lập, và về sứ mạng của Ngài là giải thoát những kẻ bị Sa-tan bắt làm phu tù. Bỗng một tiếng thét kinh hoàng vang lên cắt ngang lời Ngài. Một người điên từ giữa đám đông lao tới, kêu lớn: “Hãy để chúng tôi yên; chúng tôi với Ngài có liên can gì, hỡi Giê-su người Na-xa-rét? Ngài đến để hủy diệt chúng tôi sao? Tôi biết Ngài là ai; Ngài là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời.” {DA 255.2}

Mọi sự trở nên hỗn loạn và kinh hãi. Sự chú ý của dân chúng bị rời khỏi Đấng Christ, và lời Ngài không còn được nghe đến. Đó là mục đích của Sa-tan khi dẫn nạn nhân của nó vào nhà hội. Nhưng Chúa Giê-su quở trách quỷ, phán rằng: “Hãy im đi, và ra khỏi người này.” Khi quỷ quăng người ấy xuống giữa đám đông rồi ra khỏi, nó không làm hại người ấy. {DA 255.3}

Tâm trí của người khốn khổ này đã bị Sa-tan làm cho tối tăm; nhưng trong sự hiện diện của Đấng Cứu Độ, một tia sáng đã xuyên thủng bóng tối. Ông được thức tỉnh để khao khát sự giải thoát khỏi quyền kiểm soát của Sa-tan; nhưng quỷ chống lại quyền năng của Đấng Christ. Khi người ấy cố kêu cầu Chúa Giê-su giúp đỡ, tà linh đặt lời vào miệng ông, và ông kêu la trong cơn sợ hãi tột cùng. Người bị quỷ ám phần nào nhận thức rằng mình đang ở trước mặt Đấng có thể giải thoát mình; nhưng khi ông cố đến gần bàn tay đầy quyền năng ấy, một ý chí khác giữ ông lại, những lời của kẻ khác phát ra qua miệng ông. Cuộc xung đột giữa quyền lực của Sa-tan và khát vọng tự do của chính ông thật dữ dội. {DA 255.4}

Đấng đã chiến thắng Sa-tan trong đồng vắng cám dỗ nay lại đối diện trực tiếp với kẻ thù mình. Quỷ vận dụng mọi quyền lực để giữ quyền kiểm soát nạn nhân. Nhượng bộ ở đây đồng nghĩa với việc trao chiến thắng cho Chúa Giê-su. Dường như người đàn ông bị tra tấn ấy phải mất mạng trong cuộc vật lộn với kẻ thù đã hủy hoại nhân tính của mình. Nhưng Đấng Cứu Độ phán với thẩm quyền, và giải thoát người bị bắt làm phu tù. Người từng bị quỷ ám đứng trước đám đông kinh ngạc, vui mừng trong sự tự chủ được phục hồi. Chính quỷ cũng đã làm chứng về quyền năng thiên thượng của Đấng Cứu Độ. {DA 256.1}

Người ấy ngợi khen Đức Chúa Trời vì được giải cứu. Con mắt vừa mới đây còn rực lửa điên loạn, giờ sáng lên với sự tỉnh táo và chan chứa nước mắt biết ơn. Dân chúng lặng người vì kinh ngạc. Khi lấy lại được lời nói, họ bảo nhau: “Việc này là gì? Một giáo lý mới! Với thẩm quyền, Ngài truyền lệnh ngay cả các tà linh, và chúng vâng phục Ngài.” Mác 1:27. {DA 256.2}

Nguyên nhân thầm kín của sự khốn khổ khiến người này trở thành cảnh tượng kinh khiếp đối với bạn hữu và gánh nặng cho chính mình nằm trong đời sống ông. Ông đã bị quyến rũ bởi những khoái lạc của tội lỗi, và tưởng rằng đời sống là một lễ hội lớn. Ông không hề nghĩ mình sẽ trở thành nỗi kinh hoàng cho thế gian và sự ô nhục cho gia đình. Ông cho rằng thời gian của mình có thể trôi qua trong những thú vui vô hại. Nhưng một khi đã bước vào con đường sa sút, chân ông nhanh chóng trượt dài. Sự buông thả và nông nổi làm băng hoại những phẩm chất cao quý trong bản tính ông, và Sa-tan hoàn toàn chiếm quyền kiểm soát. {DA 256.3}

Sự hối hận đến quá muộn. Khi ông sẵn sàng hy sinh của cải và thú vui để lấy lại nhân tính đã mất, thì ông đã trở nên bất lực trong tay kẻ ác. Ông đã đặt mình vào lãnh địa của kẻ thù, và Sa-tan chiếm hữu mọi năng lực của ông. Kẻ cám dỗ đã quyến rũ ông bằng nhiều hình ảnh hấp dẫn; nhưng một khi người khốn khổ ấy đã nằm trong quyền lực nó, quỷ dữ trở nên tàn nhẫn trong sự độc ác và khủng khiếp trong những cơn thịnh nộ của nó. Cũng sẽ như vậy với mọi kẻ chiều theo điều ác; sự khoái lạc quyến rũ lúc đầu sẽ kết thúc trong bóng tối tuyệt vọng hoặc sự điên loạn của một linh hồn bị hủy hoại. {DA 256.4}

Chính tà linh đã cám dỗ Đấng Christ trong đồng vắng và chiếm hữu người điên ở Ca-bê-na-um cũng kiểm soát những người Do Thái không tin. Nhưng với họ, nó khoác vẻ đạo đức, tìm cách lừa dối họ về động cơ khi họ từ chối Đấng Cứu Độ. Tình trạng của họ còn vô vọng hơn người bị quỷ ám, vì họ không cảm thấy cần Đấng Christ, và vì thế bị giữ chặt dưới quyền lực của Sa-tan. {DA 256.5}

Thời kỳ chức vụ cá nhân của Đấng Christ giữa loài người là thời điểm hoạt động mạnh mẽ nhất của các lực lượng thuộc vương quốc tối tăm. Qua nhiều thời đại, Sa-tan cùng các thiên sứ ác của nó tìm cách kiểm soát thân thể và linh hồn con người, đem tội lỗi và đau khổ đến cho họ; rồi nó đổ mọi sự khốn khổ ấy cho Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su đang bày tỏ cho loài người biết bản tính của Đức Chúa Trời. Ngài đang bẻ gãy quyền lực của Sa-tan và giải thoát những kẻ bị nó bắt làm phu tù. Sự sống mới, tình yêu và quyền năng từ thiên đàng đang vận hành trong lòng người, và hoàng tử của điều ác bị kích động để tranh giành quyền tối thượng của vương quốc mình. Sa-tan triệu tập mọi lực lượng của nó, và ở mỗi bước đều chống đối công việc của Đấng Christ. {DA 257.1}

Cũng sẽ như vậy trong cuộc xung đột cuối cùng giữa sự công chính và tội lỗi. Khi sự sống mới, ánh sáng mới và quyền năng từ trên cao đang giáng xuống trên các môn đồ của Đấng Christ, thì một sự sống khác cũng trỗi dậy từ bên dưới, tiếp sức cho các công cụ của Sa-tan. Cường độ bao trùm mọi yếu tố trên đất. Với sự xảo quyệt tích lũy qua nhiều thế kỷ xung đột, hoàng tử của điều ác hành động dưới lớp ngụy trang. Nó xuất hiện như một thiên sứ sáng láng, và nhiều người “nghe theo các thần dỗ dành và giáo lý của quỷ.” 1 Ti-mô-thê 4:1. {DA 257.2}

Trong thời của Đấng Christ, các lãnh đạo và thầy dạy của Y-sơ-ra-ên bất lực trước công việc của Sa-tan. Họ đã bỏ qua phương tiện duy nhất nhờ đó họ có thể chống lại tà linh. Chính bởi lời của Đức Chúa Trời mà Đấng Christ đã chiến thắng kẻ ác. Các lãnh đạo Y-sơ-ra-ên tự xưng là người giải nghĩa lời Đức Chúa Trời, nhưng họ chỉ nghiên cứu để duy trì truyền thống của mình và củng cố những nghi thức do con người đặt ra. Qua sự giải thích của họ, họ khiến lời ấy bày tỏ những ý tưởng mà Đức Chúa Trời chưa từng phán. Lối diễn giải huyền bí của họ làm mờ đi điều mà Ngài đã làm cho rõ ràng. Họ tranh cãi về những chi tiết kỹ thuật không đáng kể, và trên thực tế phủ nhận những lẽ thật thiết yếu nhất. Vì vậy, sự vô tín lan rộng khắp nơi. Lời Đức Chúa Trời bị tước mất quyền năng, và các tà linh mặc sức hành động theo ý chúng. {DA 257.3}

Lịch sử đang lặp lại. Với quyển Kinh Thánh mở ra trước mắt, và tuyên xưng rằng tôn kính những lời dạy trong đó, nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo trong thời đại chúng ta đang phá hủy đức tin vào Kinh Thánh như là lời của Đức Chúa Trời. Họ tự bận rộn với việc mổ xẻ lời Chúa, và đặt ý kiến riêng của mình lên trên những lời tuyên bố rõ ràng nhất của nó. Trong tay họ, lời của Đức Chúa Trời mất đi quyền năng tái sinh. Đây là lý do tại sao sự vô tín chạy loạn xạ, và sự gian ác đầy dẫy. {DA 258.1}

Khi Sa-tan đã hủy hoại đức tin vào Kinh Thánh, hắn dẫn dụ loài người đến các nguồn khác để tìm kiếm ánh sáng và quyền năng. Theo cách đó, hắn lẻn vào. Những kẻ quay lưng lại với sự dạy dỗ rõ ràng của Kinh Thư và quyền năng cáo trách của Thánh Linh Đức Chúa Trời là đang mời gọi sự kiểm soát của các ác linh. Sự chỉ trích và suy đoán liên quan đến Kinh Thư đã mở đường cho thông linh học và thông thần học—những hình thức hiện đại hóa của tà giáo cổ đại—giành được chỗ đứng ngay cả trong các hội thánh được tuyên xưng của Đấng Christ Jesus, Chúa chúng ta. {DA 258.2}

Song hành với việc rao giảng Tin Lành, các thế lực đang hoạt động vốn chẳng qua là phương tiện của những linh lừa dối. Nhiều người đụng chạm đến những thứ này chỉ vì tò mò, nhưng khi nhìn thấy bằng chứng về hoạt động của một quyền năng hơn cả con người, hắn bị lôi cuốn mãi cho đến khi bị kiểm soát bởi một ý chí mạnh hơn ý chí của chính mình. Hắn không thể thoát khỏi quyền năng huyền bí của nó. {DA 258.3}

Các rào dậu phòng thủ của linh hồn bị phá vỡ. Hắn không còn rào cản nào chống lại tội lỗi. Một khi các sự kiềm chế của lời Đức Chúa Trời và linh của Ngài bị khước từ, không ai biết được mình có thể chìm xuống vực sâu của sự thoái hóa đến mức nào. Tội lỗi kín nhiệm hay đam mê mãnh liệt có thể giam giữ hắn làm tù binh bất lực như người bị ác linh ám ở Ca-bê-na-um. Tuy nhiên, tình trạng của hắn không phải là vô vọng. {DA 258.4}

Phương cách để chúng ta có thể đắc thắng kẻ tà ác chính là phương cách mà Đấng Christ đã đắc thắng,—quyền năng của lời Chúa. Đức Chúa Trời không kiểm soát tâm trí chúng ta nếu không có sự đồng ý của chúng ta; nhưng nếu chúng ta khao khát muốn biết và làm theo ý muốn Ngài, thì các lời hứa của Ngài thuộc về chúng ta: “Các ngươi sẽ biết Chân Lý, và Chân Lý sẽ làm cho các ngươi được tự do.” “Nếu người nào muốn làm theo ý muốn Ngài, thì sẽ biết về sự dạy dỗ đó.” Giăng 8:32; 7:17, Bản Hiệu Đính. Qua đức tin vào những lời hứa này, mọi người đều có thể được giải cứu khỏi những cạm bẫy của sai lầm và sự kiểm soát của tội lỗi. {DA 258.5}

Mọi người đều tự do lựa chọn quyền năng nào sẽ cai trị mình. Không một ai đã sa ngã quá thấp, không một ai quá đê tiện, mà không thể tìm thấy sự giải cứu trong Đấng Christ. Người bị ác linh ám, thay vì cầu nguyện, chỉ có thể thốt ra những lời của Sa-tan; thế nhưng sự khẩn cầu không thành tiếng của trái tim đã được nhậm lời. Không một tiếng kêu nào từ một linh hồn đang túng ngặt, dù không thể thốt ra thành lời, mà bị ngó lơ. Những ai đồng ý bước vào mối quan hệ giao ước với Đức Chúa Trời của thiên đàng sẽ không bị bỏ mặc cho quyền năng của Sa-tan hay sự yếu đuối của bản tính tự nhiên của chính mình. Họ được Đấng Cứu Độ mời gọi rằng: “Hãy để hắn nắm lấy sức mạnh Ta, để hắn có thể hòa thuận với Ta; và hắn sẽ hòa thuận với Ta.” Ê-sai 27:5. Các linh của sự tối tăm sẽ chiến đấu giành giật linh hồn từng dưới sự thống trị của chúng, nhưng các thiên sứ của Đức Chúa Trời sẽ tranh chiến cho linh hồn đó với quyền năng áp đảo. Chúa phán rằng: “Vật săn có thể bị cướp khỏi kẻ mạnh hữu danh, hay kẻ bị tù hợp pháp được giải cứu chăng? ... Chúa phán như vầy: Ngay cả những kẻ bị tù của kẻ mạnh hữu danh cũng sẽ bị mang đi, và vật săn của kẻ đáng kinh khiếp sẽ được giải cứu: vì Ta sẽ tranh chiến với kẻ tranh chiến với con, và Ta sẽ cứu con cái con.” Ê-sai 49:24, 25. {DA 258.6}

Trong khi hội chúng trong nhà hội vẫn còn bị mê hoặc bởi sự kinh khiếp, Jesus lui về nhà của Phi-e-rơ để nghỉ ngơi đôi chút. Nhưng tại đây một bóng tối cũng đã buông xuống. Mẹ của vợ Phi-e-rơ đang nằm bệnh, bị cơn “sốt nặng” hành hạ. Jesus quở trách căn bệnh, và người đau yếu trỗi dậy, phục vụ các nhu cầu của Thầy và các môn đồ Ngài. {DA 259.1}

Tin tức về công tác của Đấng Christ lan truyền nhanh chóng khắp Ca-bê-na-um. Vì sợ các ra-bi, dân chúng không dám đến để được chữa lành vào ngày Sa-bát; nhưng ngay khi mặt trời vừa biến mất dưới đường chân trời, một sự chấn động lớn đã xảy ra. Từ các ngôi nhà, các cửa tiệm, các nơi chợ búa, cư dân trong thành phố tuôn đến căn nhà khiêm tốn nơi Jesus đang trú ngụ. Những người bệnh được khiêng trên chõng, họ đến bằng cách chống gậy, hoặc được bạn bè dìu đi, họ lảo đảo bước đi một cách yếu ớt vào sự hiện diện của Đấng Cứu Độ. {DA 259.2}

Hết giờ này đến giờ khác họ đến rồi đi; vì không ai có thể biết liệu ngày mai có còn tìm thấy Đấng Chữa Lành ở giữa họ nữa hay không. Chưa bao giờ Ca-bê-na-um chứng kiến một ngày như thế này. Không gian tràn ngập tiếng nói của sự khải hoàn và những tiếng reo hò của sự giải cứu. Đấng Cứu Độ vui vẻ trong niềm vui mà Ngài đã khơi dậy. Khi Ngài chứng kiến những sự đau khổ của những người đã đến với Ngài, trái tim Ngài rung động với sự cảm thông, và Ngài vui mừng trong quyền năng của Ngài để phục hồi sức khỏe và hạnh phúc cho họ. {DA 259.3}

Mãi cho đến khi người đau khổ cuối cùng được nhẹ nhàng, Jesus mới thôi công tác của Ngài. Khi đám đông rời đi thì đêm đã về khuya, và sự tĩnh lặng bao trùm lên ngôi nhà của Si-môn. Ngày dài đầy náo động đã qua, và Jesus tìm kiếm sự nghỉ ngơi. Nhưng trong khi thành phố vẫn còn đang chìm trong giấc ngủ, Đấng Cứu Độ, “trỗi dậy từ rất sớm trước khi trời sáng, ... đi ra, và rời đến một nơi biệt lập, và cầu nguyện tại đó.” {DA 259.4}

Những ngày trong cuộc đời trần thế của Jesus đã trôi qua như thế đó. Ngài thường cho các môn đồ về thăm nhà và nghỉ ngơi; nhưng Ngài nhẹ nhàng khước từ những nỗ lực của họ nhằm lôi kéo Ngài rời khỏi các công tác của mình. Cả ngày Ngài lao khổ, dạy dỗ những người ngu muội, chữa lành người bệnh, ban sự nhìn biết cho người mù, nuôi sống đám đông; và vào lúc hoàng hôn hay sáng sớm, Ngài đi đến nơi thánh của những ngọn núi để thông công với Cha Ngài. Ngài thường dành cả đêm để cầu nguyện và suy ngẫm, trở về lúc rạng đông để tiếp tục công việc của mình giữa dân chúng. {DA 259.5}

Sáng sớm, Phi-e-rơ cùng các bạn đồng hành đến với Jesus, nói rằng dân chúng ở Ca-bê-na-um đã đang tìm Ngài. Các môn đồ đã từng thất vọng cay đắng trước sự tiếp đón mà Đấng Christ gặp phải cho đến nay. Các chính quyền tại Giê-ru-sa-lem đang tìm cách giết Ngài; ngay cả những người cùng thành với Ngài cũng đã cố gắng lấy mạng Ngài; nhưng tại Ca-bê-na-um, Ngài được chào đón với sự nhiệt thành vui vẻ, và hy vọng của các môn đồ lại được nhen nhóm. Có thể là trong số những người Ga-li-lê yêu chuộng tự do này sẽ tìm thấy những người ủng hộ vương quốc mới. Nhưng họ đã ngạc nhiên khi nghe lời Đấng Christ: “Ta cũng phải rao giảng vương quốc của Đức Chúa Trời cho các thành khác nữa: vì chính vì việc đó mà Ta được sai đến.” {DA 260.1}

Trong sự náo động bấy giờ đang lan tỏa khắp Ca-bê-na-um, có nguy cơ là mục tiêu của sứ mệnh Ngài sẽ bị mất đi sự nhìn biết. Jesus không thỏa mãn với việc thu hút sự chú ý vào chính mình chỉ như một người làm phép lạ hay một người chữa lành các bệnh tật thể xác. Ngài đang tìm cách thu hút loài người đến với Ngài như là Đấng Cứu Độ của họ. Trong khi dân chúng háo hức tin rằng Ngài đã đến như một vị vua, để thiết lập một sự cai trị trần thế, Ngài mong muốn xoay chuyển tâm trí họ rời khỏi những điều thuộc về đất để hướng tới những điều thuộc linh. Thành công thuần túy thuộc thế gian sẽ gây cản trở cho công cuộc của Ngài. {DA 260.2}

Và sự kinh ngạc của đám đông hời hợt đã làm chấn động linh Ngài. Trong cuộc đời Ngài, không có sự tự khẳng định mình nào xen lẫn vào. Sự tôn kính mà thế gian dành cho địa vị, giàu sang, hay tài năng đều xa lạ với Con Trai Loài Người. Jesus đã không sử dụng bất kỳ phương tiện nào mà loài người thường dùng để lôi kéo sự trung thành hay đòi hỏi sự tôn kính. Nhiều thế kỷ trước khi Ngài giáng sinh, đã có lời tiên tri về Ngài rằng: “Ngài sẽ chẳng kêu la, chẳng cao giọng, cũng chẳng làm cho tiếng mình nghe ngoài đường phố. Cây sậy bị thương Ngài chẳng bẻ, và tim đèn cháy yếu Ngài chẳng tắt: Ngài sẽ đem sự phán xét đến với Chân Lý. Ngài sẽ chẳng thất bại cũng chẳng nản lòng, cho đến khi Ngài thiết lập sự phán xét trên đất.” Ê-sai 42:2-4, phần lề. {DA 260.3}

Những người Pha-ri-si tìm kiếm sự ưu tú bằng chủ nghĩa nghi thức tỉ mỉ, và sự phô trương trong việc thờ phượng cũng như từ thiện của họ. Họ chứng tỏ lòng sốt sắng đối với tôn giáo bằng cách biến nó thành chủ đề tranh luận. Những cuộc tranh chấp giữa các giáo phái đối lập diễn ra ồn ào và kéo dài, và không lạ gì khi nghe thấy trên đường phố tiếng tranh cãi giận dữ từ các tiến sĩ luật thông thái. {DA 261.1}

Tương phản rõ rệt với tất cả những điều này chính là cuộc đời của Jesus. Trong cuộc đời đó, không bao giờ người ta chứng kiến một cuộc tranh luận ồn ào, một sự thờ phượng phô trương, hay một hành động nào nhằm kiếm tìm sự tán thưởng. Đấng Christ được ẩn giấu trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời được bày tỏ trong bản tính của Con Trai Ngài. Jesus mong muốn tâm trí dân sự được hướng tới sự bày tỏ này, và sự tôn kính của họ được dâng cho Ngài. {DA 261.2}

Mặt Trời của Sự Công Chính đã không bùng nổ trên thế gian trong vẻ huy hoàng để làm lóa mắt các giác quan bằng vinh hiển của Ngài. Có lời chép về Đấng Christ rằng: “Sự hiện ra của Ngài được chuẩn bị như buổi sáng.” Ô-sê 6:3. Ánh sáng ban ngày rạng ra trên mặt đất một cách tĩnh lặng và nhẹ nhàng, xua tan bóng tối và thức tỉnh thế gian vào sự sống. Mặt Trời của Sự Công Chính cũng đã trỗi dậy như thế, “với sự chữa lành trong đôi cánh Ngài.” Ma-la-chi 4:2. {DA 261.3}